Dân tộc Bố Y06/08/2012

 

Tộc danh và ngôn ngữ

 

 

Bố Y là một cộng đồng người gồm 3 ngành chính là Pầu Y, Pầu Nả và Pầu Thỉn. Người Bố Y tự gọi dân tộc mình là Pu Y. Giữa các ngành có sự phân biệt khác nhau bởi một số nét thể hiện trong phong tục, tập quán và trên y phục của người phụ nữ. Người Bố Y thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái. Về ngôn ngữ tuy dân tộc Bố Y còn giữ được tiếng mẹ đẻ nhưng ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày chủ yếu là tiếng Nùng (vì sinh sống gần dân tộc Nùng). Ngoài ra nhiều người Bố Y còn nói được tiếng Hoa, Tày, Dao, Mông. Ngày nay, đa phần người Bố Y còn có thể nói bằng tiếng phổ thông.

 

Trên khu vực CVĐC, theo niên giám thống kê 2009, dân tộc Bố Y có 633 người, chiếm 78,3% dân số Bố Y của tỉnh Hà Giang.

 

Người Bố Y sống thành từng làng tại Nậm Lương, Tân Tiến, Lùng Thành, Đông Tinh, Nà Bốc, Bó Lếch…xã Quyết tiến – Quản Bạ và rải rác ở huyện Đồng Văn. Họ cư trú xen kẽ với các dân tộc Nùng, Hoa, Giáy, Tày, Mông. Dao. 

 

 

Hoạt động kinh tế

 

Dân tộc Bố Y vốn thành thạo nghề làm ruộng nước nhưng do điều kiện cư trú trên vùng cao, nên họ canh tác cả trên nương rẫy, tận dụng đất đai và khí hậu vùng cao mát mẻ để sản xuất, đảm bảo cuộc sống. Nguồn sống chính của họ là trồng ngô, thứ đến là lúa, chủ yếu là lúa tẻ. Trước đây, lúa nương nhiều hơn lúa ruộng. Lương thực phụ của họ có khoai lang, sắn, dong riềng, vừng….và các loại rau đậu khác được trồng xung quanh vườn nhà. Người Bố Y chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, nuôi cá. Nghề thủ công của người Bố Y đa dạng, đồng bào làm đồ gốm, chế tác đá, chạm đồ trang sức bằng bạc; nghề mộc, nghề dệt khá phát triển.

 

Nhà cửa

 

Nhà ở của người Bố Y thường gắn liền với ruộng, nương, vườn, thường ở ven đồi, phía trước là ruộng, phía sau là đồi rừng thấp thoáng cây tre, mai, hóp…tỏa bóng râm mát yên tĩnh. Nhà ở là nhà nền đất ba gian, trình tường mái vuông, lợp ngói hoặc lợp gianh. Trong nhà có gác trên quá giang để chứa lương thực và cũng là chỗ ngủ cho con trai chưa vợ. Bố trí trong nhà của người Bố Y tương đối giống nhau, Gian giữa là nơi đề bàn thờ tổ tiên, bên cạnh là chổ ngủ của gia chủ. Chỗ ngủ của phụ nữ là 2 gian bên.

 

Trang phục, trang sức

 

Trang phục của người Bố Y đơn giản. Trước đây, phụ nữ mặc váy, áo 5 thân, khi mặc cho áo vào trong cạp váy. Nam giới mặc áo xẻ ngực, ngắn; mặc quần chân què, rộng đũng, ống rộng. Ngày xưa, phụ nữ Bố Y thường thích đeo các đồ trang sức bằng bạc như dây chuyền (chá văn), khuyên tai (xoài), vòng tay (quăn)…Ngày nay, thường ngày họ ít dùng, chỉ dùng trong các dịp lễ tết.

 

 

 Tín ngưỡng

 

Người Bố Y tin vào đa thần, quan niện mọi vật đều có thần, hồn. Người có 36 hồn. Hồn có 2 loại: hồn khôn và hồn dại. khi chết là hồn lìa khỏi xác. Hồn khôn là về bàn thờ phù hộ cho con cháu, hồn dại đi làm hại người khác, sống trong không gian vô tận. Dân tộc Bố Y thờ tổ tiên, bàn thờ có 3 bát hương để thờ cúng tổ tiên, thổ địa và táo công.

 

Hôn nhân và ma chay

 

Trước kia người Bố Y thực hiện việc nội tộc hôn. Trong những năm gần đây do xây dựng cuộc sống mới, cộng với nhiều dân tộc anh em, nên tập quán nội tộc hôn bị phá vỡ và mờ nhạt dần. Quan hệ hôn nhân được mở rộng không loại trừ thành phần dân tộc nào. Hôn nhân 1 vợ 1 chồng của Bố Y được duy trì khá bền vững.

 

Trong phong tục cưới, bà mối là người đóng vai trò trung gian giữa 2 gia đình nhà trai và nhà gái. Họ coi trọng lá số, tuổi. Trong lễ dạm hỏi, khi nhà trai đưa lá số cho nhà gái, thường đưa thêm 10 quả trứng gà nhuộm đỏ. Đó là dấu hiệu tỏ lòng quí mến chàng rể tương lai. Ngày cưới chủ rể không đi đón dâu, cô dâu cưỡi ngựa về nhà chồng, do em gái chồng dắt. Cô dâu mang về nhà chồng 1 con gà mái nhỏ và 1 chiếc kéo. Con gà mang về nhà chồng được thả vào rừng trên đường đi về nhà chồng.

 

Chế độ tang ma của người Bố Y rất nghiêm ngặt, con cái chịu tang bố mẹ 3 năm. Trong thời gian này con trai không được uống rượu, con gái không được đeo đồ trang sức, hết tang mới được tổ chức cưới xin.

 

Văn hóa

 

Đến định cư ở Việt Nam, cộng đồng người Bố Y mang theo những nét văn hóa riêng của mình, nhưng do dân số ít lại tiếp xúc, giao lưu với nhiều dân tộc cùng nơi cư trú trong vùng, nên nét văn hóa truyền thống bị hòa trộn với văn hóa các dân tộc khác trong vùng. Văn hóa dân gian như truyện cổ tích, thần thoại..của người Bố Y không được ghi chép mà chỉ truyền miệng từ đời này sang đời khác. Văn nghệ dân gian của người Bố Y hiện nay mang tính pha trộn của nhiều dân tộc khác. Từ những lời ca, tiếng hát, điệu khèn, đến những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, truyện kể dân gian cũng như những nét văn hóa trên trang phục.

                                                                                                                               (Nguồn: Sưu tầm)