Dân tộc Tày06/08/2012

 Tên gọi và địa bàn cư trú:

 

Ở Hà giang, dân tộc Tày có 157.757 người, chiếm 25% dân số trong tỉnh (năm 2001), đứng thứ 2 sau dân tộc Mông. Dân tộc Tày Hà Giang thường phân bố ở các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê. Trên khu vực Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, người Tày có 16.980 người (niên giám thống kê 2009), tập trung nhiều nhất ở huyện Quản Bạ.

 

Trước đây các dân tộc khác còn gọi người Tày là người Thổ. Có nghĩa là cư dân bản địa, nhưng cũng có nghĩa là lạc hậu.

 

Người Tày ở thôn Chì, Xuân Giang
(Nguồn ảnh: http://www.chuyentrang.tuoitre.vn)

 

 Hoạt động kinh tế:

 

Hoạt động kinh tế chính của người Tày chủ yếu là trồng trọt. Ngoài trồng lúa, ngô họ còn trồng các loại củ như: khoai lang, khoai sọ, khoai môn…Bên cạnh đó họ còn chăn nuôi, săn bắt hái lượm, các nghề thủ công và trao đổi buôn bán.

 

 Văn hóa:

 

Người Tày ăn ngày 2 bữa chính vào buổi trưa và buổi tối, có thể ăn bữa phụ vào buổi sáng trước khi đi làm. Thức ăn hàng ngày là các loại rau, cá, thịt gà, thịt lợn…nhưng cơ bản phải có mỡ để xào…Theo truyền thống, người Tày rất quí khách, khi khách đến nhà được cả gia đình đón tiếp chu đáo.

 

Người Tày có một kho tàng văn học, nghệt thuật và tri thức dân gian như: thần thoại, truyện cổ tích, truyện cười, ca dao, tục ngữ, hát lượn…Ngoài ra nền y học dân gia của người Tày cũng khá phát triển, nhiều người biết nhiều loại thuốc Đông y chữa các thứ bệnh, thuốc bổ.

 

Lễ hội truyền thống của người Tày là lễ hội Lồng Tồng (lễ hội xuống đồng) vào đầu xuân năm mới.

 

 Trang phục, trang sức:

 

Trang phục: Nam, nữ Tày chủ yếu mặc quần áo vải chàm, cùng một kiểu áo: áo dài năm thân, quần lá tọa. Đàn ông quấn khăn kiểu chữ nhân. Áo nữ dài tới bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách phải, cài 5 khuy. Vào những dịp lễ tết, hội hè phụ nữ còn mặc áo cánh trắng bên trong.

 

Trang phục nam nữ dân tộc Tày đen
(Nguồn ảnh: http://www. nguoiconcuanui.vnweblogs.com)

 

Trang sức: phụ thường đeo vòng cổ, vòng tay và mang xà tích bằng bạc.

 

Nhà cửa:

 

Nhà của người Tày thường xây dựng theo thế đất, đằng sau dựa vào núi, phía trước thường nhìn ra cánh đồng, sông suối. Hướng nhà thường căn cứ vào tuổi của gia chủ. Xung quanh bản thường trồng tre, mai, hóp…ở dọc đường.

 

Nhà của người Tày thường có 3 loại chính là nhà sàn, nhà đất và nhà phòng thủ. Về kiến trúc, mỗi loại nhà đều có sự khác nhau. Gian giữa thường để bàn thờ tổ tiên, bếp lửa, gian đầu nhà có cầu thang lên thường là nơi tiếp khách, các gian phía trong là chỗ ngủ của các thành viên trong gia đình.

 

 Quan hệ gia đình:

 

Người Tày không có những gia đình lớn, nhiều người cùng chung sống dưới một mái nhà. Gia đình nhỏ phụ quyền là chủ yếu, là tế bào của xã hội, là đơn vị kinh tế tự chủ, bao gồm vợ, chồng và con cái. Tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày thể hiện rất rõ trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như vợ phải nghe chồng, giữa con dâu và các bậc trên có sự cách biệt nghiêm ngặt như không được ngồi ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu với bố chồng, anh chồng…

 

Tín ngưỡng:

 

Do sản sinh ra trên cơ sở của một nền nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, mang tính chất tự cung tự cấp…cho nên những tàn dư của các tín ngưỡng nguyên thủy còn tồn tại trong đời sống tâm linh của người Tày như thờ cây đa to, thờ hòn đá kỳ dị…Tiêu biểu nhất trong tín ngưỡng của người Tày là thờ cúng tổ tiên. Bàn thờ tổ tiên của người Tày đặt ở gian giữa. Không kể các dịp lễ tết, người ta thường dâng hương hoa vào ngày mùng 1 và ngày rằm âm lịch. Bàn thờ luôn được quét dọn sạch sẽ, thắp hương cúng chè, rượu.Mỗi khi gia đình có việc đều phải thắp hương mời tổ tiên về chứng giám.

 

 Ngôn ngữ: Dân tộc Tày là một cộng đồng người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái

                                                                                                                                  (Nguồn: Sưu tầm)