Phức hệ hóa thạch Tay cuộn Eurispirifer Tonkinensis (Mansuy) ở Ma Lé27/12/2011

Hóa thạch Tay cuộn ở Ma Lé thuộc ngành Tay cuộn (Brachiopoda). Tên “Tay cuộn” bắt nguồn từ tên một cơ quan trong cơ thể con vật. Bản thân tên La tinh Brachiopoda cũng bắt nguồn từ chữ brachium có nghĩa là “tay”. Trong phần thân mềm của con vật có một cơ quan gồm 2 dải dài gọi là “tay” nằm ở hai bên miệng. Khi con vật mở vỏ kiếm mồi, hai tay này thò ra để khuấy nước và đưa một luồng nước cùng thức ăn tới miệng. Khi vỏ đóng, hai tay này thu vào và cuộn lại.

 

 

Toàn bộ các loài Tay cuộn sống ở biển với nước biển có độ mặn bình thường. Độ sâu thích hợp với đa số Tay cuộn là từ vài mét đến vài chục mét, tuy nhiên, chúng có thể sống ở độ sâu đến 200m, tức là ở vùng thềm lục địa.

 

Các con vật thuộc ngành Tay cuộn có vỏ vôi bao bọc phần thân mềm. Khi con vật chết, chỉ có vỏ vôi được bảo tồn dưới dạng hóa thạch. Vỏ vôi gồm 2 mảnh như con trai, hến hiện đại (thuộc lớp Hai mảnh vỏ, ngành Thân mềm) nhưng khác cơ bản ở chỗ 2 mảnh vỏ ở các con vật thuộc ngành Tay cuộn không bao giờ giống và bằng nhau. Mảnh bụng luôn lớn hơn mảnh lưng. Một điểm khác nữa là hai mảnh vỏ Tay cuộn luôn cân đối (nghĩa là từng mảnh vỏ có đối xứng hai bên).

 

Đại diện cổ nhất của ngành Tay cuộn xuất hiện trong kỷ Cambri (tức là đầu đại Cổ sinh (Paleozoi), cách ngày nay khoảng 540 – 500 triệu năm). Đại Cổ sinh, đặc biệt trong các kỷ Ordovic, Silur và Devon là giai đoạn phát triển cực thịnh của ngành tay cuộn. Trong giai đoạn này chúng tiến hóa nhanh, tạo ra nhiều loài có khoảng thời gian tồn tại ngắn, nghĩa là nhiều loài có giá trị định tuổi cao. Đến cuối đại Cổ sinh (cách ngày nay khoảng 250 triệu năm), hầu hết các giống loài Tay cuộn bị tuyệt diệt. Chỉ một số loài sống sót và phát triển trong đại Trung sinh (Mesozoi) và một số ít tồn tại trong một số biển hiện nay.

 

Giá trị của điểm di sản Hóa thạch Tay cuộn ở Ma Lé

 

Hóa thạch Tay cuộn ở Ma Lé gồm một số loài như: Euryspirifer tonkinensis (Mansuy), Dicoelostrophia annamitica (Mansuy), Schellwienella lantenoisi (Mansuy), Howittia wangi Ho,…Trong số đó, có loài được xác lập mới và được đặt tên bằng địa danh ở Việt Nam như Euryspirifer tonkinensis (tonkinensis có nguồn gốc từ tonkin = Bắc Bộ), Dicoelostrophia annamitica (annamitica có nguồn gốc từ annam = Việt Nam).

 

Các hóa thạch Tay cuộn Má Lé có khoảng thời gian tồn tại ngắn, được xác định là trong Devon sớm, tức là cách ngày nay khoảng 400 triệu năm. Các đất đá chứa chúng được gọi là “hệ tầng” Mia Lé (do trên bản đồ trước đây của Pháp, Ma Lé được ghi là Mia Lé).

 

Có thể ghi nhận các giá trị sau đây của điểm di sản:

 

– Giá trị về khoa học địa chất:

 

– Hóa thạch Tay cuộn ở Ma Lé có giá trị định tuổi cao do những hóa thạch này có thời gian tồn tại ngắn và không lặp lại trong lịch sử địa chất. Hiện nay, khi gặp những hóa thạch này ở bất cứ đâu ngoài vùng Đồng Văn (như Lạng Sơn, Cao Bằng, Sơn La thậm chí một số vùng ở nam Trung Quốc), có thể khẳng định những đất đá chứa chúng được hình thành cách ngày nay khoảng 400 triệu năm.

 

– Hóa thạch Tay cuộn ở Ma Lé có giá trị cao trong luận giải về kiến tạo mảng. Phần lớn hóa thạch Tay cuộn Ma Lé là những dạng bản địa, đặc trưng cho mảng Nam Trung Hoa (bao gồm phần lãnh thổ phía Nam của Trung Quốc và Bắc Bộ Việt nam). Theo thuyết Kiến tạo mảng, các lục địa ngày nay bao gồm các mảng khác nhau ghép lại vào những thời điểm khác nhau. Sự có mặt hay không có mặt của các hóa thạch bản địa như Tay cuộn Ma Lé ở một khu vực nào đó có thể là một trong những dẫn liệu cho việc xác nhận khu vực này gắn lliền hay tách rời với mảng Nam Trung Hoa vào thời gian tương ứng.

 

– Giá trị về mặt giáo dục:

 

– Hóa thạch Tay cuộn ở Ma Lé là di tích của những sinh vật rất cổ, ít gặp, hiện nay không còn tồn tại. Tuổi của các hóa thạch Tay cuộn ở Ma Lé được xác định khoảng 400 triệu năm. Đây là những sinh vật rất cổ trên trái đất nếu so sánh với 540 triệu năm của lịch sử của thế giới sinh vật và vài triệu năm lịch sử của loài người.

 

– Sự hiển diện của hóa thạch Tay cuộn ở Ma Lé là dấu hiệu chỉ ra rằng vùng Đồng Văn tuy là vùng núi cao nhưng vào thời gian khoảng 400 triệu năm trước đây là một biển nông với độ sâu từ vài mét đến vài chục mét, nước biển có độ mặn trung bình.

 

– Giá trị về thẩm mỹ:

 

– Độc đáo nhất trong số hóa thạch Tay cuộn ở Ma Lé là loài Euryspirifer tonkinensis. Loài có hình dạng như một cánh chim.

 

– Ở Quảng Tây (Trung Quốc) tại mặt cắt chuẩn ranh giới Devon – Carbon, một tấm bia kỷ niệm được xây, phía trên là mô hình một cá thể Euryspirifer tonkinensis với chiều dài gần 1 mét.

 

– Là điểm di tích có sự bảo tồn gần như hoàn hảo với số lượng cá thể lớn. Đây là một trường hợp hiếm gặp vì:

 

+ Sinh vật chết để lại những phần cứng của cơ thể trong các lớp bùn trong đại dương nhưng trải qua quá trình tạo đá, những chuyển động kiến tạo trong suốt chiều dày lịch sử, phần lớn các di tích bị phá hủy hoặc bảo tồn không nguyên vẹn. Chỉ có số ít các vùng trong đó hóa thạch được bảo quản nguyên vẹn.

 

+ Trong tự nhiên sinh vật phân bố không đồng đều trong không gian cũng như thời gian. Chỉ những địa điểm nhất định trong bồn trầm tích và trong những giai đoạn nhất định mới có môi trường sống thuận lợi để phát triển đông đảo.