image bannerimage banner
Vải lanh - Đặc tính và quy trình sản xuất
Cỡ chữ Tương phản
“Ở đâu có cây lanh, ở đó có người Mông”. Đây là câu nói mà hầu hết đồng bào người Mông đều biết đến. Từ cây thành sợi rồi miệt mài qua tháng qua ngày, với sự nhẫn nại cần cù sẵn có của nguời phụ nữ Mông, những tấm vải lanh thành hình như một biểu tượng nét đẹp văn hóa, một tiêu chuẩn đánh giá về đức hạnh phẩm chất của người phụ nữ. Ngày nay các sản phẩm từ vải lanh đã mang lại nguồn thu nhập cho người dân địa phương, các sản phẩm được giới thiệu rộng rãi tới du khách trong và ngoài nước. Cùng chúng tôi tìm hiểu về đặc tính và quy trình sản xuất vải lanh trên Cao nguyên đá Đồng Văn của tỉnh Hà Giang.

* Quy trình sản xuất vải lanh

- Trồng cây lanh

Cây lanh được trồng trên nương ven chân núi, hay các thung lũng nhỏ cạnh nhà để tiện chăm sóc. Vào khoảng tháng 2, tháng 3 âm lịch, khi bắt đầu có mưa, người Mông sẽ tiến hành gieo hạt lanh. Hạt lanh được gieo dày để cây mọc thẳng và gày, không có nhiều cành, nhánh và cho chất lượng tốt. Cây lanh lấy sợi được thu hoạch sau khoảng 60 - 70 ngày kể từ ngày gieo hạt.

- Thu hoạch cây lanh

Sau khi gieo hạt khoảng 3 - 4 tháng thì được thu hoạch, mùa hè cũng là thời điểm để thu hoạch cây lanh. Khi cây lanh có thân màu vàng, hạt nâu, chúng đã sẵn sàng để được thu hoạch. Sau khi thu hoạch, người ta cắt bỏ lá tại ruộng, chỉ lấy phần thân cây. Trong quá trình thu hoạch, cần nhẹ nhàng bởi thân cây bé nhỏ, giòn, dễ gẫy, nếu gẫy sợi lanh sẽ không đẹp nữa.

anh tin bai

Mùa hè là thời điểm thu hoạch cây lanh (Nguồn internet)

- Phơi thân lanh

Xếp đứng thân cây, để 10 - 15 ngày cho đến khi thân cây khô hoàn toàn. Nếu thời tiết thuận lợi, nắng đẹp, thì phơi trong khoảng 7 - 8 ngày là được. Những ngày nắng họ mang ra phơi cho thân cây khô, buổi tối hoặc những ngày mưa đem cất trên gác bếp. Nhiều khi nắng to quá cũng không tốt, vì vỏ lanh sẽ bị giòn và gãy. Khi đó phải xử lí bằng cách chỉ phơi vài tiếng trong ngày rồi đem vào chỗ mát để. Khi lanh khô đạt yêu cầu sẽ chuyển sang công đoạn tước vỏ.

anh tin bai

Cây lanh được phơi sau khi đã được tuốt lá (Nguồn internet)

- Tước vỏ

Tước vỏ lanh tạo thành những sợi dài dọc chiều dài thân cây lanh, mỗi sợi sẽ dài khoảng 1-1,5m, một thân cây thì sẽ tước được khoảng 5-8 sợi. Phần vỏ lanh là phần thu hoạch chính, còn phần thân lanh sẽ được bỏ đi, có thể làm chất đốt. Sau khi tước, vỏ lanh sẽ được bó thành từng bó, để vào chỗ mát hoặc ủ nilon để có độ ẩm nhất định, chuẩn bị cho công đoạn giã lanh.

anh tin bai

Tước vỏ lanh (Nguồn internet)

- Giã sợi lanh

Mục đích của giã sợi là làm cho sợi mềm hơn và rụng bớt phần mùn xanh ở vỏ, những phần ở thân cây còn dính lại khi tước.

Sau khi tách vỏ, các sợi lanh sẽ được trải ra, những sợi ngắn sẽ dùng lược tách riêng, giữ nguyên các sợi mềm và dài. Việc tước sợi cần sự khéo léo, cho sợi lanh có độ mảnh đều nhau và không bị đứt nửa chừng, nếu không sau này sợi lanh không đều, khó se và không chắc.

Sợi lanh sau khi được tước ra sẽ bó thành từng nắm treo dài trước cửa, rồi đem cuộn tròn mang cho vào cối để giã đánh bong hết bột chỉ, còn trơ lại sợi dai, giã bao giờ sợi lanh mềm, uốn cong được, rồi cuộn lại thành những con sợi lớn. Cối giã lanh bằng gỗ, chày giã cũng bằng một cây gỗ lớn, mỗi lần giã khoảng chừng 30 phút cho một mẻ. Sau đó sợi lanh sẽ được chuyển sang công đoạn nối sợi.

anh tin bai

Ảnh: Giã sợi lanh (Nguồn internet)

- Nối sợi lanh

          Việc nối các sợi lanh với nhau mất rất nhiều thời gian, phải làm hoàn toàn bằng tay. Người ta tẽ đôi một đầu sợi lanh khoảng 10cm rồi nối vào đầu một sợi khác bằng cách xoắn chặt lại với nhau, sao cho chỗ nối thật chắc, khó nhìn thấy được. Phụ nữ Mông thường cuốn sẵn những bó sợi lanh quanh bụng và tận dụng mọi thời gian rỗi để nối lanh, như những lúc đi chợ bán hàng, ngồi tám chuyện với nhau, lúc không phải lên nương… Nối sợi và quấn vào những thanh gỗ cho đến khi cuộn lanh to khó quấn được nữa thì thôi. Những cuộn lanh đã được nối xong sẽ chuyển sang công đoạn se sợi.

- Se sợi lanh

Từ những vỏ lanh tước ra từ thân cây còn lớn, người ta phải se thành những sợi nhỏ và họ dùng một guồng quay hình bánh xe bằng gỗ có đường kính khoảng 70cm. Bánh xe có thể chuyển động khi người ta đạp các bàn đạp rất thô sơ làm bằng tre. Bánh xe này được gắn 4 que tre nhỏ làm lõi cho các con sợi. Sợi lanh thô được kéo ra từ 4 cuộn lanh tròn đã được nhúng ướt và được xoắn thật chặt sau mỗi vòng quay và cuộn vào các que tre. Một tay xoắn sợi, một tay khéo léo đưa sợi vào lõi cho không bị rối. Sau khi se sợi thì những cuộn sợi sẽ chuyển sang công đoạn tháo sợi.

- Tháo sợi

Người ta dùng một khung tre hình chữ thập lớn để gỡ sợi ra khỏi lõi tre, hết con này đến con khác. Sợi lanh sẽ được gỡ ra và cuốn thành một vòng lớn khi được quay tròn. Trong khi nối thì họ tiếp tục nối sợi lanh cho dài ra, đến khi mỗi cuộn được tầm 2-3kg thì dừng lại. Việc tháo sợi để kiểm tra lại các mối nối của lanh xem chắc chắn chưa và cắt bỏ những phần thừa, phần nhô ra khỏi sợi. Sau khi được một khối lượng lanh đủ dùng thì chuyển sang công đoạn tiếp theo là nấu sợi với tro bếp.

- Nấu sợi

Việc nấu sợi với tro bếp để những phần mùn còn lại rụng hết và làm cho sợi lanh có màu trắng. Họ đun những cuộn sợi lanh trong nước trộn với tro bếp từ 3-4 lần để tẩy trắng lanh. Lần đầu tiên khi đun xong sẽ để thành đống, mang ủ khoảng 1 ngày sau đó mang đi giặt với nước suối để cho ra các chất mùn. Cứ như vậy, sau khi giặt thì lại mang đi đun rồi giặt, khoảng 3-4 lần khi sợi lanh trắng đạt yêu cầu thì dừng.

Sau khi giặt lần cuối, họ đun lanh với nước sáp ong, tùy vào khối lượng lanh mà cho lượng sáp ong phù hợp (đa phần dựa trên kinh nghiệm). Đun khoảng nửa tiếng rồi bỏ ra phơi khô, mục đích đun với sáp ong để ở công đoạn lăn lanh sau đó, sợi lanh sẽ mịn hơn, bóng hơn và chắc hơn.

- Lăn lanh

Họ dùng một khối gỗ trụ đường kính khoảng 40cm, dài khoảng 1 mét, năng khoảng 50kg và một phiến đá hình chữ nhật dày khoảng 15cm, nặng cũng tầm 50-60kg, chiều dài thì phù hợp với tư thế dang hai chân. Người thợ đặt sợi lanh giữa phiến đá và thân gỗ, hai chân đứng trên hai đầu của phiến đá sao cho giữ được thăng bằng, tay đính bám vào một thanh gỗ bắt ngang trên tường, bắt đầu chuyển động từ trái sáng phải, từ phải sang trái liên tục và nhịp nhàng… Khi lăn hết một đoạn sợi lanh bên dưới, họ dừng lại, nhấc một đầu phiến đá lên và kéo đoạn lanh tiếp theo vào, cứ như vậy cho đến khi hết con sợi rồi chuyển qua con khác. Tôi đã thử làm việc này rồi và nó thực sự khó khăn vì không dễ dàng để di chuyển một phiến đá nặng như vậy qua lại trơn tru trên một khúc gỗ tròn, mà toàn bộ các công việc này đều do phụ nữ làm.

- Chia sợi để đưa vào khung dệt

Tiếp tục dùng những khung gỗ hình vuông để tháo sợi và kiểm tra sợi xem có bị đứt không. Rồi sợi lanh được cuốn vào các thanh tre ngắn và đưa vào căng sợi dọc khung dệt.

- Dệt lanh

Đây là một công đoạn quan trọng, đòi hỏi sự khéo léo và lành nghề của người thợ. Có những cô dệt đến nay đã 40-50 năm rồi, kể từ khi có 15-16 tuổi. Khung dệt truyền thống của người Mông làm bằng gỗ và tre, có cấu trúc khá đơn giản, luôn được kéo căng bằng một đai buộc quanh lưng người thợ dệt. Trước đây khổ vải khá hẹp chỉ khoảng 30 - 35cm, bằng chiều dài từ cạp váy tới gấu váy, còn giờ khi có nhiều đơn đặt hàng từ bên ngoài chứ không còn là nhu cầu sử dụng trong cộng đồng người Mông nữa thì khổ vải có thể lên tới 50cm tùy theo yêu cầu. Người thợ sẽ sử dụng cả 2 tay và một chân để dệt.

Nhìn vào một tấm vải sẽ biết được người thợ lành nghề hay không. Các đường vải có được ráp khít với nhau, có kẽ hở không? Mặt vải có phẳng, có nhiều xơ vải nổi lên hay không? Trung bình mỗi người thợ lành nghề sẽ dệt được khoảng 3-6 mét vải/ngày. Lượng sợi lanh cho vào khung có thể dệt được 100 mét vải nhưng thường khi dệt được 30-40 mét thì sẽ cắt 1 lần vì đống vải đã lớn lắm rồi. Sau khi dệt xong thì vải sẽ được cắt tiếp thành các đoạn 7-10 mét. Tôi có hỏi một người thợ vì sao lại cắt thành một đoạn 7-10 mét thì cô bảo rằng, với khổ vải 35 phân thì một ô vẽ sáp ong sẽ là 35×35, một tấm dài 7 mét thì sẽ tròn 20 ô, tương tự như vậy cho vải khổ 50 phân.

anh tin bai

Ảnh: Sợi lanh được dệt trên khung cửi tạo thành tấm vải (Nguồn internet)

- Nhuộm vải - Vẽ sáp ong

Đây cũng là một công đoạn quan trọng trong quy trình làm vải lanh thủ công.

Một tấm vải lanh sau khi dệt sẽ được lựa chọn để đem nhuộm màu hay là vẽ sáp ong. Thường việc vẽ sáp ong sẽ phải chọn những tấm vải dệt có chất lượng tốt nhất, còn nhuộm màu thì dùng tấm nào cũng được.

Nếu vẽ sáp ong thì sẽ mang vải lên lăn giữa phiến đá và trụ gỗ cho mịn và bóng trước, rồi mới mang đi vẽ. Còn nhuộm màu thì sẽ đem đi nhuộm màu trước, sau khi vải khô thì mới mang đi lăn vải. Trước khi vẽ hay nhuộm còn có một công đoạn là mang tấm vải đi ngâm với nước chua để vải có khả năng thấm màu tốt hơn và không bị phai. Với nhuộm chàm thì sẽ ngâm với nước đậu lên men (nước mà sau khi ép đậu thừa lại), còn với nhuộm màu thì sẽ ngâm với nước chua lấy từ nồi bã rượu ngô sau khi nấu rượu xong.

+ Vẽ sáp ong

Người ta sẽ dùng bộ bút vẽ với cán bằng tre, đầu ngọn bịt bằng đồng được mài mịn, giữa các khe hở có nhồi bông để giữ nước sáp. Khi vẽ, họ chấm đầu đồng vào sáp ong nóng chảy rồi vẽ những họa tiết truyền thống lên nền vải lanh trắng. Các họa tiết phổ biến có thể kể đến như họa tiết hình tam giác (núi), hình tròn xoáy (con người), hình đối xứng (cặp đôi - vợ chồng), hình có 4 góc (gia đình), hoa lá… Với một tấm vải lanh dài 7 mét thì người thợ sẽ vẽ liên tục trong khoảng 1 tuần thì sẽ xong.

          Sau khi vẽ thì vải sẽ được mang đi nhuộm trong vạc nước chàm để nguội (vải màu thì nhuộm trong các bể nước nóng, còn vải vẽ sáp ong phải nhuộm trong các bể nước nguội để không làm chảy sáp ong). Ngâm vải trong vạc nước, sau đó để khô rồi mang đi giặt nước suối, rồi lại tiếp tục đem đi nhuộm. Tùy vào độ đậm nhạt của màu mà sẽ có số lần nhuộm tương ứng, thông thường từ 4-7 lần, nhưng có những màu đậm cần nhuộm tới 9 lần.

Sau khi đạt được màu như ý, tấm vải sẽ được nhúng trong nước nóng để bong hết sáp ong ra. Những phần không có sáp ong sẽ thấm màu chàm, còn những phần được vẽ sáp ong lên không thấm màu sẽ có màu trắng của tấm vải gốc và tạo thành những hoa văn trên đó.

anh tin bai

Ảnh: Vẽ sáp ong trên vải lanh (Nguồn internet)

- Nhuộm chàm

Các công đoạn tương tự nhuộm chàm, nhưng khác biệt là sẽ nhuộm trong vạc nước nóng chứ không để nguội. Cái hay trong công đoạn này là việc tạo ra các màu sắc của tấm vải đều lấy từ các nguyên liệu tự nhiên. Các màu cơ bản thì sẽ dùng từ các loại cây củ lá, ví dụ như đỏ - cây rễ máu, vàng - củ nghệ, tím - lá cẩm, nâu - củ nâu, chàm - lá chàm, hồng, đen… Còn với các màu như xanh nước biển, xanh lá cây, cam… thì sẽ pha bằng sự kết hợp của chính các màu trên. Vì chủ yếu làm bằng kinh nghiệm, phụ thuộc vào sự lành nghề và con mắt của từng người thợ chứ không có tỉ lệ cụ thể nào, nên với mỗi tấm vải sẽ là một màu đậm nhạt khác nhau, không có tấm nào giống y sì tấm nào. Ví dụ tấm đầu tiên là đỏ, nhưng những tấm sau sẽ là đỏ vàng, đỏ cam, đỏ hồng, đỏ đậm, đỏ nhạt… mỗi lần mỗi khác.

- Rửa và phơi khô

Cuối cùng, sau khi đã được màu ưng ý, cả nhuộm chàm - vẽ sáp ong hoặc nhuộm màu thì tấm vải sẽ được mang đi giặt một lần nữa, lần này là giặt với cả xà phòng để kiểm tra sự lưu màu của các tấm vải.

Với vải màu thì còn công đoạn lăn trên đá và gỗ nữa để cho tấm vải trở lên bóng và mịn.

* Sử dụng để tạo thành các sản phẩm hoàn thiện

Tấm vải lanh đã sẵn sàng để cắt ghép, tạo thành các sản phẩm như túi xách, ví, mũ, quần áo, gối ôm, các bức tranh trang trí…

* Đặc tính chất liệu vải lanh

- Ưu điểm

Dễ vệ sinh

Chất liệu vải lanh có độ bền vượt trội, không xảy ra tình trạng sờn rách, giãn chạy sau thời gian sử dụng. Điều kiện vệ sinh của vải không quá cầu kỳ, bạn có thể giặt bằng tay hoặc bằng máy, sử dụng bàn là nhưng vẫn giữ được chất lượng ban đầu.

Mềm mại, thoải mái

Cảm giác mềm mại, thoáng mát là ấn tượng đầu tiên của tất cả đối tượng tiêu dùng về vải lanh. Chất liệu không quá bó, mỏng vừa phải tạo độ rũ tự nhiên. Người mặc sẽ có không bị đáu rát, khó chịu tại nơi tiếp xúc. Sau mỗi lần giặt, vải sẽ càng trở nên mềm hơn.

Thấm hút tốt

Đặc tính thấm hút và thoát hơi ẩm đều xuất hiện trên dòng vải này. Người dùng không có cảm giác bí hơi, nóng bức nhất là trong những ngày hè. Trong những ngày nồm ẩm, vải cũng rất nhanh khô, hạn chế mùi hôi khó ngửi.

Kháng khuẩn cao

Đặc tính kháng khuẩn tự nhiên được lưu giữ trọn vẹn trong quá trình sản xuất. Sản phẩm lanh khá dễ dùng, khâu bảo quản đơn giản, chống bọ và côn trùng xâm nhập. Độ bóng vừa phải cũng góp phần giảm thiểu bụi bẩn bám trên mặt vải.

Độ bóng cao

Vải lanh có độ bóng tự nhiên đẹp mắt, thay đổi theo từng góc nhìn người thưởng thức. Màu sắc vải có thể đổi từ trắng ngà, màu vàng, nâu hoặc xám. Mặt vải có độ xoăn, nhám từ cứng, thô sang mềm mịn. Vì vậy, vải rất dễ thiết kế, phù hợp với nhiều kiểu dáng, độ tuổi.

Khả năng giữ ấm

Vải lanh thường có nhiều lỗ rỗng cho phép không khí và hơi ẩm lưu thông tự do. Khi nhiệt độ thấp hơn, bạn có thể sử dụng chăn lanh để giữ nhiệt và hơi ấm từ cơ thể. Tính chất cách điện cũng là điểm cộng hoàn hảo của dòng vải này.

Cũng giống vải lanh, chăn cotton phù hợp với 4 mùa, đem tới cảm giác thoải mái cho người tiều dùng. Kết cấu đặc biệt giữ cho sản phẩm luôn thoáng mát, khô ráo. Trong mùa đông, chăn bông được gia tăng thêm lớp ruột để ổn định thân nhiệt tốt hơn.

Thân thiện với môi trường

Vải lanh có nguồn gốc tự nhiên, tự phân hủy sau khi không sử dụng. Vì vậy, mối quan tâm về môi trường chủ yếu liên quan tới quá trình sản xuất. Thông thường, axit kiềm hoặc axit oxalic được sử dụng để tách sợi lanh có nồng độ thấp, trong khi đó hóa chất trong cây lanh được chứng minh là nhanh và hiệu quả hơn. Quy trình canh tác công nghiệp khiến nhiều người lo ngại tới sự xói món của đất, ảnh hưởng tới vùng hoang dã.

Nhìn chung, vải lanh là loại vải ít gây hại cho môi trường nhất. Tỉ lệ tái chế rác thải sau sản xuất là rất cao. Các phân tử cấu thành có thể tái hấp thu vào môi trường chỉ trong vài năm thay vì hàng thế kỷ như sợi tổng hợp.

- Hạn chế

Đàn hồi kém

Vải lanh có độ đàn hồi khá kém, không co giãn dẫn đến tình trạng hình thành các nếp nhăn. Chúng có thể xuất hiện liên tục ở cùng một vị trí trên cổ áo, viền trang phục hay những khu vực mà bàn là làm nhăn đi qua. Xu hướng đứt chỉ lanh có thể hình thành từ đó. Tuy có độ bền cao, vải lanh vẫn phải là phẳng liên tục.

Xuất hiện các điểm gút nhỏ

Các điểm gút nhỏ hay còn gọi là “slubs” thường hiện diện ngẫu nhiên theo chiều dọc của vải lanh. Các điển này từng được xem là khiếm khuyết khiến chất lượng giám sút. Với dòng vải lanh hiện đại, các nhà tạo mẫu đã lợi dụng chúng để tạo ra sự phá cách thú vị cho sản phẩm trang trí nội thất. Thực chất, chúng không ảnh hưởng quá nhiều tới sự toàn vẹn giá trị và tính năng của vải lanh.

* Cách bảo quản vải lanh hiệu quả

- Là ủi sản phẩm ở 240 độ C.

- Hạn chế sử dụng chất tẩy mạnh trong quá trình vệ sinh.

- Phơi vải lanh ở nơi thoáng mát, khô ráo, sạch sẽ, tránh ánh nắng trực tiếp của mặt trời.

- Không đâm chọc lên mặt vải lanh.

- Không đặt thiết bị tỏa nhiệt nên bề mặt vải.

- Đặt vải lanh xa nơi có nhiệt độ cao.

- Nên sử dụng vải lanh thường xuyên để tránh hơi ẩm làm bục, ẩm ướt hay nổ vải.

Hiện nay trên Cao nguyên đá Đồng Văn, nơi đồng bào Mông sinh sống ít gia đình trồng cây lanh, dệt vải. Bởi sự phát triển nhanh của kinh tế thị trường, công nghệ, cũng như sự giao thoa văn hóa  giữa các dân tộc, dẫn đến việc thay đổi trang phục, thay đổi từ chất liệu vải, màu sắc cho đến họa tiết trang trí. Nhưng dù trang phục có thay đổi thế nào, thì chắc chắn cây lanh, vải lanh vẫn không thể thiếu trong đời sống của đồng bào Mông. Bỡi lẽ, vải lanh không chỉ là một sản phẩm thông thường để phục vụ nhu cầu may mặc mà nó còn gắn liền với đời sống văn hóa, tâm linh của đồng bào từ bao đời nay.

Thiên Nga

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 6
  • Hôm nay: 98
  • Trong tuần: 5 807
  • Tất cả: 764064

Liên hệ với chúng tôi

Liên hệ ngay