image bannerimage banner
Hóa thạch Huệ biển
Cỡ chữ Tương phản
Hóa thạch Huệ biển được phát hiện trên Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn như một minh chứng cho lịch sử hình thành của mảnh đất địa đầu tổ quốc.
anh tin bai 

Mô phỏng môi trường sống của loài Huệ Biển (Ảnh: St)

Huệ biển là loài động vật biển thuộc lớp Crinoidea. Huệ biển có một miếng ở trên cùng được bao quanh bởi các cánh tay. Mặc dù bản mẫu cơ bản có 5 cánh tay cân đối, hầu hết huệ biển có nhiều hơn năm cánh tay. Huệ biển thường có một thân cây sử dụng để gắn toàn bộ thân vào một chất nền, nhưng có nhiều con chỉ gắn vào một chỗ lúc vị thành niên rồi bơi tự do lúc trưởng thành.

 

Huệ biển gồm có ba phần cơ bản: thân, đài hoa, và cánh tay. Thân bao gồm xương có độ rỗng cao được kết nối bằng mô chằng. Đài hoa có hình chiếc cốc chứa bộ phận tiêu hoá và cơ quan sinh sản của Huệ biển, miệng nó nằm chính giữa phía trên, còn hậu môn nằm xung quanh nó điều này không thường có với các động vật da gai khác. Cánh tay chia làm năm phần hoặc đối xứng và bao gồm các xương nhỏ hơn thân và đang được trang bị với lông mi hỗ trợ việc ăn uống bằng cách di chuyển cách chất hữu cơ từ cánh tay về miệng.

anh tin bai 

Mẫu hóa thạch Huệ biện được phát hiện tại Ấn Độ (Ảnh: St)

Huệ biển ăn bằng cách lọc các hạt thức ăn nhỏ từ nước biển bằng lông của nó giống như vũ khí. Ống chân được bao phủ bởi một chất nhầy có thể dính bất kỳ thức ăn nào trôi qua. Một khi chúng lấy được một hạt thức ăn, ống chân có thể gạt nó vào rãnh chân mút, nơi lông mi có thể đẩy những dòng chất nhầy về phía miệng. Nói chung, huệ biển sống trong môi trường với tương đối ít sinh vật phù du nên có nhiều cánh tay hơn sinh vật sống ở môi trường giàu sinh vật phù du.

Miệng nó nối đến một thực quản ngắn. Không có dạ dày thật, cho nên thực quản kết nối trực tiếp với ruột. Ruột nó vắt vòng quanh bên trong đài hoa. Ruột nó thường bao gồm nhiều ruột thừa, một số trong đó có thể dài hoặc phân nhánh. Phần cuối ruột nối đến một trực tràng cơ bắp ngắn. Nó thông đến hậu môn.

anh tin bai
 

Các đốt thân hóa thạch của loài Huệ Biển (Ảnh: St)

Huệ biển trải qua hai giai đoạn bức xạ thích ứng: lần đầu ở kỷ Ordovic, lần còn lại là sau khi chúng trải qua một cuộc tuyệt chủng hàng loạt vào cuối kỷ Permi. Bức xạ Trias này dẫn đến các hình thức sở hữu cánh tay linh hoạt trở nên phổ biến hơn; khả năng vận động, chủ yếu là phản ứng với áp lực bị ăn thịt cũng trở nên rất phổ biến. Bức xạ này xảy ra sớm hơn so với cuộc cách mạng biển Đại Trung Sinh, có thể bởi vì nó chủ yếu được thúc đẩy bởi sự gia tăng của các kẻ thù săn mồi, đặc biệt của là lớp cầu gai. Sau sự tuyệt chủng cuối kỷ Permi, Huệ biển không bao giờ lấy lại được sự đa dạng về hình thái mà nó được hưởng trong thời kỳ Đại Cổ Sinh; chúng chọn lọc những đặc điểm hình thái thích hợp để tồn tại qua thời kỳ Đại Cổ Sinh.

Lịch sử lâu dài và đa dạng địa chất của Huệ biển chứng minh động vật da gai đã thích nghi cho cách ăn chọn lọc. Các hóa thạch của động vật da gai có cuống có cách ăn chọn lọc, chẳng hạn như blastoids, cũng được tìm thấy trong đá của thời đại Cổ sinh. Những nhóm đã tuyệt chủng này có thể vượt qua Huệ biển cả về số lượng và sự đa dạng trong các tầng lớp nhất định. Tuy nhiên, không ai trong số chúng sống sót qua cuộc khủng hoảng vào cuối kỷ Permi.

BQL Công viên địa chất

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 12
  • Hôm nay: 53
  • Trong tuần: 5 988
  • Tất cả: 669949

Liên hệ với chúng tôi

Liên hệ ngay